Mẹ tôi kể cho tôi nghe dì tôi bị nguyền rủa hơn chục năm nay, và bà ngoại tôi cũng biết chuyện gì đã xảy ra. Vì vậy, tôi cứ nài nỉ bà ngoại kể cho tôi nghe, nhất quyết muốn bà kể hết mọi chuyện vì tôi thực sự muốn biết. Câu chuyện như sau: Bà ngoại tôi có tổng cộng bốn người con. Mẹ tôi là con cả. Người con thứ hai là dì Ni. Người con thứ ba là chú Nam. Tôi sẽ không nói về người con út vì lúc đó cô ấy còn quá nhỏ và không nhớ nhiều.
Ông ngoại tôi qua đời khi mẹ tôi 15 tuổi, ngay sau khi học xong lớp 9. Dì Ni 14 tuổi, nhưng dì ấy không thông minh lắm và bỏ học sau khi học xong lớp 6. Mẹ tôi cũng không tiếp tục học; bà bỏ học để giúp bà ngoại làm nông.
Mẹ tôi là trụ cột chính của gia đình. Sau mùa vụ làm nông, bà tôi thường đưa dì Ni đi làm những việc lặt vặt, mỗi ngày chỉ kiếm được vài chục ngàn. Thật khó khăn cho một cô bé 15 tuổi phải nuôi sống gia đình.
Bà tôi kể rằng khi mẹ và dì Ni còn trẻ, có rất nhiều người đàn ông, cả trẻ lẫn già, theo đuổi họ. Ngưỡng cửa nhà lúc nào cũng có người đến cầu hôn. Có lẽ bà tôi thương mẹ tôi vì phải làm việc vất vả nên đã nói với mẹ tôi rằng đã sắp đặt hôn sự cho mẹ với ba tôi – lúc đó gia đình ba rất khá giả trong vùng, nhưng hai người không hề yêu nhau; họ thậm chí chưa từng nói chuyện.
Mẹ tôi không phản đối, hiểu rằng gia đình cần một người đứng đầu. Cha mẹ bà bị ép buộc vào cuộc hôn nhân sắp đặt. Bà tôi biết mẹ tôi yêu người khác và cưới cha tôi vì hoàn cảnh bắt buộc. Thấy mẹ tôi không hạnh phúc, bà tôi nói rằng bà sẽ không ép hai cô con gái còn lại của mình cưới bất cứ ai họ thích hoặc mong muốn.
Vậy nên dẫn đến bi kịch của dì Ni, có rất nhiều người theo đuổi từ các làng và huyện khác, trong đó có chú Am, một chàng trai trẻ cùng làng và trạc tuổi dì Ni. Bà kể rằng chú Am đã thích dì Ni từ hồi mẫu giáo. Hồi nhỏ, chú được 1 ngàn mỗi tuần để đi học và thường cho dì Ni 500 đồng. Càng lớn, chú càng đều đặn cho dì bất cứ thứ gì mình nhận được. Nhưng dì Ni không bao giờ đáp lại tình cảm của chú.
Dì cũng rất thẳng thắn và nói ra những gì mình nghĩ. Sau đó, một chàng trai trẻ từ huyện khác, chú Phú, bắt đầu theo đuổi dì Ni. Dì thích chú, và sau một thời gian, chú Phú nói với bà rằng chú muốn mẹ mình cầu hôn dì Ni.
Bà liền hỏi ý kiến các con gái. Dì Ni nói với bà rằng dì thích chú Phú. Tin đồn lan nhanh chóng khắp làng. Đêm trước khi chú Phú đến để thương lượng tiền sính lễ, chú Am đến nhà dì Ni. Chú gọi rất lâu nhưng dì Ni không ra.
Bà bảo dì Ni nói chuyện với chú Am, “Hãy nói chuyện nhẹ nhàng với chú ấy, nói với chú ấy một cách tử tế. Mẹ nghĩ chú ấy sẽ hiểu.” Dì Ni bước ra khỏi phòng với vẻ mặt ủ rũ.
Đêm đó, bà kể bà vẫn thức và nghe rõ cuộc trò chuyện của họ. “Sao anh lại đến đây nữa, Am?” Chú Am hỏi thẳng dì Ni có thật sự định cưới người đàn ông ở làng xa kia không. Dì Ni trả lời là có, và họ sẽ thương lượng tiền sính lễ vào ngày mai.
Chú Am van xin dì Ni đừng cưới chú Phú, nói rằng chú sẽ cho gấp đôi số tiền sính lễ họ đưa ra. Dì Ni bực mình, thẳng thắn nói với chú rằng bà chưa bao giờ yêu chú Am, chưa bao giờ có ý định yêu chú, và sẽ không bao giờ yêu chú trong kiếp này. Cho dù chú là người đàn ông duy nhất còn lại trên đời, dì cũng sẽ không lấy chú Am làm chồng. Chú Am dọa sẽ tự tử và để lại lời trăn trối rằng chú sẽ chỉ yêu bà trong kiếp này và mọi kiếp sau…
Dì Ni nghĩ đó chỉ là lời đe dọa và chú Am sẽ không thực sự làm vậy, nên bà đuổi chú đi và trở về phòng ngủ. Bà tôi, người đang lén nghe trộm, cũng rất sốc, nhưng bà không bao giờ nghĩ tình yêu của chú Am lại mạnh mẽ đến mức sẵn sàng chết vì con bà.
Sáng hôm sau, có người báo cho tôi biết dì Am đã tự tử bằng cách treo cổ. Bà tôi vội vã chạy đến xem, còn dì Ni thì vô cùng bàng hoàng và sợ hãi, không dám đi. Khi bà tôi đến nhà chú Am, tiếng khóc nức nở vang vọng khắp nhà, người dân tụ tập khắp đường phố. Thi thể trong tình trạng hỗn loạn: mắt lồi, lưỡi thè ra, quần dính đầy nước tiểu và phân. Người ta nghi ngờ chú đã chết vào đêm hôm trước. Một bức thư tuyệt mệnh mà chú Am viết trước khi chết cũng được tìm thấy.
Sáng hôm đó, thầy cúng thực hiện một nghi lễ để “bảo vệ ngôi nhà”, tương tự như việc phong tỏa làng mạc – không ai bên trong có thể rời đi, và không ai bên ngoài có thể vào.
Mẹ tôi đang mang thai tôi khoảng bảy tháng. Đó là mùa thu hoạch, và bố mẹ tôi đã không về làng vài ngày rồi. Hôm đó là ngày bố tôi đi đập lúa.
Chú Nam và bạn của chú đang ở ngoài đồng lúa với mẹ tôi, đã bó lúa thành từng đống ở khu vực đập lúa. Những người thanh niên giúp đập lúa. Tối hôm đó, mẹ tôi nấu bữa tối trong túp lều ngoài đồng. Bà hỏi chú Nam có bao nhiêu người bạn đến giúp. Chú nói mười ba người, nhưng khi đến giờ ăn, mẹ tôi chỉ đếm được mười hai người.
Sau bữa tối, mọi người lại xuống đập lúa ở khu vực đập lúa. Lúc đó khoảng 10 giờ tối. Mẹ tôi nghe lén chú Nam và bạn của chú nói rằng họ muốn hút thuốc lá, nhưng thuốc lá lại ở trong túp lều ngoài đồng (nơi mẹ tôi đang ngủ).
Vừa dứt lời, một bàn tay nắm lấy tay mẹ tôi. Bàn tay ấy lạnh như băng. Mẹ tôi liền đưa gói thuốc lá vào tay người đó. Mẹ tôi nghĩ chắc là bạn của chú Nam đến, nhưng trong lòng lại thắc mắc sao chú ấy đến sớm thế. Khoảng 15 phút sau, có người chạy vào túp lều, “Chị ơi… cho em ít thuốc lá.” Mẹ tôi sững người.
Bạn của chú Nam thấy mẹ không nói gì cả liền tiếp tục nói, “Mọi người đều đang ở ngoài đồng đập lúa. Em chạy qua xin chị ít…” Mẹ nhìn gói thuốc lá. Nó vẫn nằm cạnh màn chống muỗi, nơi mẹ đã nhặt nó lên.
Cho đến sáng hôm sau, mẹ tôi kể cho bố và chú Nam nghe về những gì mẹ đã trải qua đêm hôm trước. Mọi người đều đồng ý rằng chắc hẳn đó là hồn ma của chú Am, đến giúp bạn bè đập lúa.
Thế là mẹ bảo chú Nam đếm kỹ xem có bao nhiêu người bạn đến giúp. Dù đếm bao nhiêu lần, chú cũng chỉ đếm được 12 người… “Hừ!” Chú Nam kêu lên. “Vậy tại sao tối qua em lại đếm được 13?”
Ở nhà, bà đưa dì Ni đến đám tang chú Am. Mọi người ở đám tang nhìn dì Ni một cách kỳ lạ, đặc biệt là họ hàng của chú Am. Bà đưa dì Ni vào bếp giúp. Có người nghe thấy nói: “Ông ấy tự tử vì người phụ nữ này.”
Họ xì xào bàn tán cho đến khi dì Ni không chịu nổi nữa và vội vã chạy về nhà. Bà nói dì Ni cảm thấy tội lỗi. Vào ngày hỏa táng, dì Ni càng sợ hãi hơn. Dì đi đặt hoa nhưng không dám nhìn vào quan tài, sợ hình ảnh đó sẽ ám ảnh mình. Bà lén nhìn và nói mắt chú Am không nhắm lại được yên nghỉ.
Người lo việc mai táng cố gắng che lại nhưng không thể hoàn toàn. Thật kinh khủng. Đám tang qua đi, mọi thứ dường như bình thường, nhưng dì Ni có vẻ bị rối loạn tâm thần. Dì sợ hãi mọi thứ mình nghe thấy. Mỗi lần dì cần đi vệ sinh, bà đều phải đứng canh bên ngoài.
Khoảng thời gian đó, mẹ sắp sinh tôi. Vụ thu hoạch lúa đã kết thúc, và sau khi cất lúa vào kho, khoảng một tháng sau, mẹ tôi sinh tôi. Thời đó, chúng tôi không đến bệnh viện; bà ngoại là bà đỡ. Ca sinh nở diễn ra ngay trên hiên nhà.
Mẹ tôi kể rằng bà đã chôn nhau thai của tôi dưới cầu thang nhà và phủ kín bằng gai nhọn, nếu không con Ma Lai sẽ đến đào lên. Vào đêm đầu tiên mẹ ở cữ sau sinh, khoảng 2 giờ sáng, mọi người trong nhà đều đang ngủ. Mẹ tôi nhìn qua các tấm ván sàn và thấy một ánh sáng màu cam đỏ mờ ảo trong cống rãnh bên dưới. Bà đẩy những mẩu than hồng nóng hổi xuống lỗ, và ánh sáng tắt.
Không lâu sau, dì tôi kết hôn với chú tôi, và cả hai người chuyển đến sống cùng nhau. Mọi thứ dường như diễn ra suôn sẻ. Bà ngoại tôi nghe đồn về nội dung bức thư tuyệt mệnh của dì tôi, đại loại là dì muốn mang theo những vật dụng quý giá của tôi.
Thực ra, không ai trong gia đình chúng tôi từng đọc bức thư đó. Nhưng những người đã đọc thì kể lại cho chúng tôi nghe, nói rằng đó là lời nguyền rủa dì tôi, rằng chú sẽ theo dì đi khắp nơi. Không ai có thể thay đổi quá khứ.
Không lâu sau, dì tôi có thai. Lúc đó, dì út muốn kết hôn vì bà đã chia đất cho hai người, mỗi người hơn 300 mét vuông, và cũng dành đất để xây nhà. Nhưng bà không cho phép dì út kết hôn vì dì Ni đang mang thai. Bà nói rằng họ sẽ chuyển đi sau khi dì Ni sinh con. Bây giờ, dì nên ở lại với bà.
Mẹ nói rằng thực ra, dì Ni sinh non, chỉ mới 7 tháng tuổi thai. Bé gái sinh ra rất nhỏ, và không khóc khi sinh ra. Bé không chịu ăn khi dì cố gắng cho ăn; bé chỉ nằm im, nhưng vẫn thở. Rồi một lúc sau, hơi thở của cháu gái trở nên yếu ớt. Bà bế cháu đến một thầy lang để nhờ ông làm lễ ban phước cho cháu… nhưng không có gì thay đổi… không có phản hồi.
Ông thầy nói với bà rằng linh hồn đó rất thù dai, nhưng bên nhà họ dường như có một loại bùa hộ mệnh nào đó, nên ông ấy không thể làm gì được cháu. Bà ngoại lại đưa em họ tôi đến một thầy lang khác ở một làng khác để thử lại, vì vẫn còn hy vọng. Nhưng kết quả vẫn vậy. Bà lại bế cháu về nhà.
Mẹ tôi đến an ủi dì Ni, “Hãy mạnh mẽ lên” rồi quay sang bảo chú Phú đào hố chuẩn bị chôn cất. Dì Ni ôm chặt con gái, khóc như muốn vỡ tim, “Mẹ đừng chôn con bé vội. Để con ôm bé thêm một đêm nữa, biết đâu con nó lại khỏi.” Bà thấy thương dì Ni nên không ngăn cản.
Buổi tối, dân làng nghe tin đến hỏi han. Một bà cụ khuyên nên đến gặp chú Phong. Chú ấy không phải thầy lang truyền thống, nhưng chú ấy biết chút ít về phép thuật.
“Thôi, chẳng có gì để mất,” bà nói, rồi dẫn cháu gái đến nhà chú ấy thử. Chú Phong niệm chú một lúc, rồi lấy nước thánh rưới lên người đứa bé. Một tiếng khóc lớn vang lên ngay lập tức. Đứa trẻ đi ngoài và tiểu tiện ngay tại chỗ. Khi họ trở về nhà, đứa bé đã khỏe mạnh như bình thường. Từ đó trở đi, chú nói từ giờ trở đi đứa bé là con gái của chú (để nó được khỏe mạnh và hạnh phúc).
Khi đứa trẻ khoảng 1 tuổi, chú Phú đưa dì Ni đến sống ở nhà mới ven ruộng lúa cách nhà cũ khoảng 3 km. Hồi đó, không có ô tô. Dì đi bộ dọc theo con đường đất đỏ bụi bặm, xuyên qua rừng, đầm lầy và ruộng lúa.
Khoảng 7-8 năm sau, dì Ni có thai. Dì vô cùng vui mừng. Từ khi sống với chú Phú, dì Noi chưa bao giờ dùng biện pháp tránh thai. Dì mang thai ba tháng, sắp bước sang tháng thứ tư. Đêm đó, dì Ni mơ thấy chú Am đứng trước nhà, nhưng không thể vào được. Chú nhìn chằm chằm vào dì, rồi đột nhiên nở một nụ cười đáng sợ. Sau đó, cổ chú gãy, mắt trợn trừng, nhưng miệng vẫn cười.
Dì Ni giật mình tỉnh dậy và không ngủ được đêm đó. Sáng hôm sau, dì kể cho mẹ nghe. Mẹ an ủi dì, nói đó chỉ là giấc mơ và không có gì phải lo lắng. Khoảng 10 giờ sáng, chị gái tôi chạy về nhà nói dì Ni bị đau bụng. Mẹ tôi vội vàng chạy vào và thấy dì Ni đang ngồi trên sàn nhà tắm, chân dính đầy máu, mùi máu nồng nặc. Mẹ vội đưa dì đến bệnh viện. Đứa bé đã chết.
Bác sĩ hỏi dì có bị ngã không, nhưng dì Ni nói không, dì chỉ vào nhà tắm vì đau bụng. Chưa kịp vào đến nhà vệ sinh, máu đã bắt đầu chảy không kiểm soát. Bác sĩ khám cho dì, và nói rằng tử cung của dì bình thường. Bác sĩ bảo dì nghỉ ngơi và cho uống thuốc bổ sung.
Năm sau, dì tôi lại mang thai, và mọi chuyện lại lặp lại như trong phim cũ. Khi sắp bước sang tháng thứ tư của thai kỳ, dì lại bị sảy thai. Dường như mỗi khi có chuyện gì xấu sắp xảy ra với dì Ni, dì ấy lại mơ thấy chú Am.
Khi tôi lớn hơn và nhớ được mọi chuyện, khoảng lớp sáu, dì Ni đến nhà chúng tôi vào sáng sớm, khóc lóc. Chúng tôi rất bối rối vì không biết dì ấy lại mang thai (năm thứ ba liên tiếp). Dì ấy vẫn hy vọng vì muốn có thêm con. Dì ấy khóc lóc đến gặp mẹ tôi vào sáng sớm vì đêm hôm trước dì ấy mơ thấy chú Am đứng trước nhà cười (giống như lần trước).
Mẹ tôi nhanh chóng đưa dì Ni đến nhà bà ngoại ở quê. Bà ngoại trải chiếu và bảo dì Ni nằm xuống. Mẹ và bà ngồi bên cạnh dì suốt, sợ rằng chuyện xấu sẽ lại xảy ra với dì. Nhưng rồi, đúng như mọi người dự đoán, lần này dì Ni không bị đau bụng, mà đột nhiên máu bắt đầu chảy. Lúc đó, mẹ và bà nhìn nhau.
Bà ngoại hét lên bảo chú Phú nhanh chóng lấy xe đưa dì Ni đến bệnh viện. Thật không may, họ lại không đến kịp (nhà chúng tôi và bệnh viện cách nhau khoảng 30 km). Dì Ni khóc lóc, mất hết hy vọng, chửi rủa và nói: “Mày muốn gì? Sao mày lại oán hận tao?”
